Thứ Tư, 18 tháng 6, 2014

BỆNH VẨY NẾN ĐIỀU TRỊ CÓ KHÓ KHÔNG


Vảy nến là một bệnh da mạn tính, căn nguyên chưa sáng tỏ. Ngày nay người ta cho rằng vảy nến là bệnh da di truyền. Dưới tác động của các yếu tố như stress, nhiễm khuẩn, chấn thương cơ học, vật lý..., gene gây vảy nến được khởi động.


Tổn thương thường xuất hiện đầu tiên ở vùng da đầu và vùng bị tỳ đè, khu trú một vùng hoặc rải rác nhiều nơi, có khi khắp toàn thân, thường có tính chất đối xứng.

Tổn thương cơ bản của vảy nến là đỏ - vảy. Người bệnh thấy xuất hiện các đám mảng đỏ kích thước khác nhau, từ vài milimet đến vài centimet, có khi hàng chục centimet (các mảng lớn cố thủ ở một vài vị trí), giới hạn rõ, hơi gồ cao, nền cứng cộm. Có khi vảy trắng choán gần hết nền đỏ, chỉ còn lại viền đỏ xung quanh rộng hơn lớp vảy. Vảy màu trắng đục bóng như màu nến trắng. Vảy nhiều tầng, nhiều lớp, dễ bong, khi cạo vụn ra như bột trắng, như phấn, như vết nến rơi lả tả. Vảy tái tạo rất nhanh, bong lớp này thì lớp khác lại đùn lên, số lượng nhiều.

Người bệnh cảm thấy ngứa ít hoặc nhiều, thường ngứa nhiều ở giai đoạn đang tiến triển. Một số người bệnh không ngứa mà chỉ có cảm giác vướng víu, ảnh hưởng thẩm mỹ. Có thể gặp tổn thương móng, bản móng có hố lõm nhỏ, hay có các đường kẻ theo chiều dọc. Có khi móng dòn vụn, dày ở bờ, 10 móng cùng bị một lúc.

Vảy nến ở da đầu thường là các đám mảng đỏ, nền cộm, bề mặt phủ vảy trắng, thường mọc lấn ra trán thành một viền gọi là vành vảy nến. Tóc vẫn mọc xuyên qua tổn thương. Vùng sau tai đỏ, có vết nứt, có khi xuất tiết, dễ nhầm với viêm da đầu...

Bệnh tiến triển mạn tính, các đợt cao trào xen kẽ các đợt thuyên giảm. Vảy nến lành tính, bệnh nhân sống khỏe mạnh suốt đời, trừ một số thể nặng như vảy nến thể khớp, vảy nến đỏ da toàn thân.

Việc điều trị bệnh vảy nến còn nhiều nan giải. Rất nhiều loại thuốc, nhiều phương pháp được đưa ra song chưa có loại nào chữa bệnh khỏi hẳn, chỉ tạm đỡ, sau một thời gian lại tái phát. Điều trị bệnh này chủ yếu là “làm sạch” tổn thương nhanh chóng và kéo dài thời gian tái phát.

Khi bị mắc bệnh vảy nến, bệnh nhân cần gặp bác sĩ chuyên khoa da liễu để được tư vấn cụ thể, dùng thuốc theo chỉ định, tránh những tác dụng phụ của thuốc. Bệnh nhân tránh căng thẳng thần kinh, sinh hoạt điều độ, hạn chế chất kích thích (rượu, cà phê...) và xác định tư tưởng “chung sống hòa bình” với bệnh.



CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG NGƯỜI BỊ VẨY NẾN




Vẩy nến là căn bệnh nan y. Nếu bạn là một bệnh nhân mắc căn bệnh “cứng đầu” này, thì cần phải có lòng kiên nhẫn khi điều trị bệnh.

Bên cạnh việc tuân thủ theo đơn thuốc điều trị và những yêu cầu của bác sĩ da liễu, bạn cũng cần chú ý đến chế độ ăn uống và sinh hoạt hàng ngày để việc điều trị bệnh có những chuyển biến tích cực và nhanh chóng.

Hạn chế các loại thực phẩm

Không uống rượu, hạn chế ăn đồ ngọt, các chất béo có trong thịt gia súc và các sản phẩm từ bơ sữa.

Tránh những thực phẩm có chứa nhiều axit như dứa, cam, cà phê, cà chua và tất cả những loại thức ăn dễ gây dị ứng như lúa mỳ, sữa, ngô, trứng.

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ VẨY NẾN


Cách giúp giảm bệnh vẩy nến hiệu quả nhất được nhiều bác sĩ khuyên dùng là ngâm mình (hoặc phần da bị vẩy nến) trong nước ấm từ 10 đến 15 phút, sau đó bôi thuốc dưỡng ẩm làm mềm da để giúp da mềm và ẩm hơn.

- Dùng thuốc mỡ axit salixilic để làm mềm da và thuốc này cũng giúp bong các vẩy nến trên da.

- Dùng kem chứa thành phần steroid cũng có hiệu quả, tuy nhiên vì loại này cũng có thể gây hại đến da nên cần được hỏi bác sĩ tư vấn xem có thích hợp với loại da của bạn không.

- Dùng thuốc mỡ chứa thành phần calcipotriene vì nó liên kết với vitamin D và cho kết quả tốt như kem hydrocortisone để điều trị vẩy nến.

- Thuốc mỡ có chứa thành phần nhựa than đá và dầu gội có thể làm giảm các triệu chứng của bệnh nhưng thuốc này dễ gây tổn thương vùng da xung quanh. Thuốc này bạn cần phải hỏi ý kiến của bác sĩ.

- Thuốc mỡ Anthralin sau khi bôi khoảng 10 - 30 phút thì cho tác dụng làm bong các vẩy nến, tạo tế bào da mới và tế bào da bình thường. Tuy nhiên thuốc mỡ anthralin có thể làm da bạn bị tấy đỏ lên và phải sau vài tuần mới hết được. 

- Đơn thuốc chứa vitamin A thì không có tác dụng bằng steroid nhưng phụ nữ đang ở độ tuổi sinh đẻ thì nên dùng thuốc này hơn. Tuy nhiên đơn thuốc chữa vẩy nến cần phải được tư vấn từ bác sĩ để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và bé.

Lưu ý khi chăm sóc da

- Khi bạn phơi nắng, dù tia cực tím chưa đủ để làm cháy nắng làn da của bạn nhưng cũng đủ để gây thương tổn cho da, nhất là lúc này da bạn đang bị rối loạn điều tiết sinh ra bệnh vẩy nến. Vì vậy cần tránh tiếp xúc với tia cực tìm càng nhiều càng tốt.

- Ngoài ra để tránh bệnh vẩy nến phát triển và lan rộng bạn cần tránh làm tổn thương da, côn trùng cắn, nhiễm vi khuẩn và vi rút, cháy nắng, stress, rượu và tăng cân.

- Nếu bệnh vẩy nến trở nên nặng và khó chữa thì có thể bạn chọn phương pháp dùng tia PUVA kết hợp với thuốc trị vậy nến. Tuy nhiên cách này có thể làm tăng nguy cơ ung thư da hơn là bạn dùng tia UVB để điều trị mà cũng cho kết quả tương tự.

CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH VẨY NẾN

Vẩy nến hiện nay vẫn chưa thể chữa khỏi hoàn toàn mà chỉ làm giảm, sạch thương tổn và kéo dài thời gian tái phát. Có nhiều phương pháp điều trị và dựa vào tuổi, phái, dạng lâm sàng, vị trí sang thương cũng như sự lan tỏa của bệnh.

Điều trị tại chỗ thường được sử dụng trong vẩy nến mức độ nhẹ và trung bình. Vẩy nến mức độ trung bình và nặng có thể phải sử dụng quang trị liệu hoặc thuốc hệ thống.

Điều trị tại chỗ

Có rất nhiều thuốc được sử dụng tại chỗ trong điều trị vẩy nến. Gần đây, một số loại thuốc mới như tazaroten và tacrolimus cũng có hiệu quả trong điều trị vẩy nến.

Một số thuốc mới trong điều trị vẩy nến

Alefaceft:

Alefaceft là một protein tái kết hợp, bao gồm đoạn tận cùng IFA-3 (kháng nguyên liên quan chức năng bạch cầu) và đoạn Fc của IgGI của người. Thuốc này được Cơ Quan Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhận trong điều trị vẩy nến mảng trung bình và nặng vào tháng 1/2003.

Alefaceft ngăn chặn sự tương tác giữa LFA-3 (kháng nguyên liên quan chức năng bạch cầu) nằm trên tế bào nhận diện kháng nguyên và CD2 nằm trên tế bào T bằng cách ức chế cạnh tranh.

Điều này giúp ngăn cản sự dẫn truyền các tín hiệu đồng kích thích giữa tế bào nhận diện kháng nguyên và tế bào T.Alefaceft còn có tác dụng ức chế miễn dịch. Alefaceft ức chế sự tăng sinh hoạt hóa của tế bào T nhớ bằng cách ức chế sự tương tác giữa LFA-3 và CD2, đồng thời gây sụt giảm lượng tế bào T qua mối liên kết giữa tế bào T và tế bào killer tự nhiên.

Alefaceft có hiệu quả trong điều trị vẩy nến trung bình đến nặng (> 10% diện tích bề mặt cơ thể). Liều trung bình là 15 mg/tuần (tiêm bắp) trong 12 tuần. Có thể điều trị đợt 2 nhưng thời gian giữa 2 đợt tối thiểu là 12 tuần.

Bệnh nhân cần được đếm lượng CD4 trước khi điều trị và mỗi tuần trong lúc điều trị. Nếu CD4 < 250 tế bào/mL, thuốc phải được ngưng cho đến khi CD4>250 tế bào/mL. Nếu CD4 < 250 tế bào/mL liên tục trong 4 tuần, alefaceft phải được ngưng lâu dài.

Không có tác dụng phụ nghiêm trọng cũng như nhiễm trùng cơ hội hay nhiễm độc cơ quan được báo cáo trong các nghiên cứu.


THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH VẨY NẾN

Cách giúp giảm bệnh vẩy nến hiệu quả nhất được nhiều bác sĩ khuyên dùng là ngâm mình (hoặc phần da bị vẩy nến) trong nước ấm từ 10 đến 15 phút, sau đó bôi thuốc dưỡng ẩm làm mềm da để giúp da mềm và ẩm hơn.

- Dùng thuốc mỡ axit salixilic để làm mềm da và thuốc này cũng giúp bong các vẩy nến trên da.

- Dùng kem chứa thành phần steroid cũng có hiệu quả, tuy nhiên vì loại này cũng có thể gây hại đến da nên cần được hỏi bác sĩ tư vấn xem có thích hợp với loại da của bạn không.

- Dùng thuốc mỡ chứa thành phần calcipotriene vì nó liên kết với vitamin D và cho kết quả tốt như kem hydrocortisone để điều trị vẩy nến.

- Thuốc mỡ có chứa thành phần nhựa than đá và dầu gội có thể làm giảm các triệu chứng của bệnh nhưng thuốc này dễ gây tổn thương vùng da xung quanh. Thuốc này bạn cần phải hỏi ý kiến của bác sĩ.

- Thuốc mỡ Anthralin sau khi bôi khoảng 10 - 30 phút thì cho tác dụng làm bong các vẩy nến, tạo tế bào da mới và tế bào da bình thường. Tuy nhiên thuốc mỡ anthralin có thể làm da bạn bị tấy đỏ lên và phải sau vài tuần mới hết được. 

- Đơn thuốc chứa vitamin A thì không có tác dụng bằng steroid nhưng phụ nữ đang ở độ tuổi sinh đẻ thì nên dùng thuốc này hơn. Tuy nhiên đơn thuốc chữa vẩy nến cần phải được tư vấn từ bác sĩ để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và bé.

Lưu ý khi chăm sóc da

- Khi bạn phơi nắng, dù tia cực tím chưa đủ để làm cháy nắng làn da của bạn nhưng cũng đủ để gây thương tổn cho da, nhất là lúc này da bạn đang bị rối loạn điều tiết sinh ra bệnh vẩy nến. Vì vậy cần tránh tiếp xúc với tia cực tìm càng nhiều càng tốt.

- Ngoài ra để tránh bệnh vẩy nến phát triển và lan rộng bạn cần tránh làm tổn thương da, côn trùng cắn, nhiễm vi khuẩn và vi rút, cháy nắng, stress, rượu và tăng cân.

- Nếu bệnh vẩy nến trở nên nặng và khó chữa thì có thể bạn chọn phương pháp dùng tia PUVA kết hợp với thuốc trị vậy nến. Tuy nhiên cách này có thể làm tăng nguy cơ ung thư da hơn là bạn dùng tia UVB để điều trị mà cũng cho kết quả tương tự.


Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

NẤM KẼ CHÂN CÓ THUỐC CHỮA KHÔNG

Chân tôi hôm nào cũng rửa sạch, thay tất mới, nhưng sao vẫn rất hôi? Các kẽ ngón chân thỉnh thoảng lại mọc một vài mụn nhỏ, đôi khi có mủ, phải uống kháng sinh mới hết. Tôi mắc bệnh gì vậy, cách chữa thế nào.

Trần Hiền (Hải phòng)

Với những mô tả trên rất có thể bạn đã bị nấm kẽ chân. Nấm kẽ chân khi mới nhiễm không có dấu hiệu gì đặc biệt, thường bắt đầu ở giữa ngón 4 và ngón 5, sau mới lan rộng sang các khe khác và ở cả hai bên. 

Sau một thời gian, nấm kẽ chân sẽ gây ngứa nhiều, phải gãi mạnh nên dễ nhiễm khuẩn, mưng mủ. Lúc này bệnh nhân vừa ngứa vừa đau nên ngại làm vệ sinh tại chỗ, khiến bệnh ngày càng nặng thêm; mỗi lần bội nhiễm có thể bị sốt, nổi hạch ở bẹn. 

Với trường hợp nhiễm nấm kẽ chân, ngoài uống thuốc, bệnh nhân cần vệ sinh chân thật sạch theo cách sau: Ngâm chân mỗi ngày 1-2 lần vào thuốc tím pha thật loãng 1/4.000. Nước ngâm chân càng nóng càng tốt. Mỗi lần ngâm chân từ 20-30 phút. Trong khi ngâm chân, nên dùng ngón tay hoặc khăn mềm kỳ cọ mạnh bàn chân, đặc biệt là các kẽ ngón chân để làm bong hết các lớp da chết và các chất tiết của chân. 

Sau khi ngâm chân, dội sạch lại bằng nước ấm có pha thuốc tím rồi lau khô bằng khăn đã được tiệt khuẩn (hấp, luộc). Tiếp theo mới bôi thuốc diệt nấm (theo chỉ định của bác sĩ). Việc dùng thuốc chữa nấm cần liên tục để tránh tái phát.

NẤM KẼ CHÂN VÀ CÁCH CHỮA

Tôi 31tuổi. VÌ công việc nên tôi phải mang giày thường xuyên. Các kẽ ngón chân của tôi thường xuyên bị đỏ, có khi chảy nước, ngứa ngáy rất khó chịu. Nghe nói đó là do bị nấm kẽ. Xin bác sĩ cho biết nguyên nhân và cách điều trị căn bệnh khó chịu này.

Hoàng (Hà Nội)







Chào bạn, 


Nấm kẽ chân là tình trạng nhiễm nấm ở vùng bàn chân và các kẽ ngón chân. Đây là tình trạng nhiễm nấm ngoài da thường gặp nhất. Nguyên nhân chủ yếu gây nấm kẽ chân là các chủng nấm Trichophyton rubrum, Trichophyton mentagrophytes và Epidermophyton floccosumi. Một số nguyên nhân khác ít gặp hơn Candida... 

Da bàn chân bị trầy xước, tăng tiết mồ hôi chân, thường xuyên mang giày kín trong môi trường nóng ẩm hoặc chân bị ngâm nước kéo dài cũng là những yếu tố thuận lợi cho sự xâm nhập của nấm.

Bệnh này cần được điều trị với các thuốc chống nấm tại chỗ hoặc toàn thân hoặc phối hợp cả hai. Các thuốc chống nấm tại chỗ có thể được dùng trong 1 - 6 tuần, tùy từng loại thuốc và loại tổn thương. Trong quá trình điều trị nấm bàn chân, khi triệu chứng mới thuyên giảm, nếu bạn đột ngột ngưng dùng thuốc có thể làm bệnh nặng trở lại. Do đó, để điều trị triệt để bạn nên đến bác sĩ chuyên khoa da liễu để được khám và được kê đơn một số lượng thuốc đủ lộ trình

THUỐC NÀO ĐIỀU TRỊ NẤM KẼ CHÂN HIỆU QUẢ

Ketoconazol: Đây là thuốc chống nấm có hoạt phổ rộng, có cả dạng kem bôi ngoài và dạng viên nén, hỗn dịch để uống. Thuốc có tác dụng kìm hãm nấm nhưng cũng có thể diệt nấm ở nồng độ cao và dùng kéo dài hoặc trên nấm rất nhạy cảm.

Ketoconazol có thể gây độc cho gan vì thế không nên dùng cho những người đã bị bệnh gan. Biến chứng ở gan thường gặp nhiều hơn ở người cao tuổi, phụ nữ, người nghiện rượu hoặc bị suy chức năng gan do những nguyên nhân khác.

Vừa qua, Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) đã có cảnh báo nhấn mạnh về nguy cơ gây tổn thương gan nghiêm trọng, các vấn đề tuyến thượng thận và có thể dẫn đến tương tác thuốc có hại với các thuốc khác khi dùng đồng thời đối với loại viên nén uống nizoral (ketoconazol). Do độc tính trên của thuốc nên dạng viên nén này không còn là một thuốc điều trị đầu tay cho bất kỳ loại nhiễm trùng nấm nào. Đối với viên nén nizoral không được chỉ định để điều trị các bệnh nhiễm trùng do nấm ở da và móng tay.

Miconazol: Miconazol là thuốc imidazol tổng hợp có tác dụng chống nấm đối với nhiều loại nấm khác nhau, trong đó có nấm kẽ chân do thuốc ức chế tổng hợp ergosterol ở màng tế bào nấm gây ức chế sự sinh trưởng của tế bào nấm.

 nấm Trichophyton rubrum.


Khi dùng tại chỗ có thể gây kích ứng nhẹ, bỏng rát, nổi mẩn. Dùng đường uống có thể gây rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, nôn hoặc đôi khi tiêu chảy. Dùng đường tiêm gây tác dụng phụ chiếm tỷ lệ cao nhất. Không nên dùng miconazol đường tĩnh mạch để điều trị bệnh nhiễm nấm thông thường.

Itraconazol: Itraconazol được dùng điều trị nhiều loại nấm: nấm kẽ chân, kẽ tay, nấm bẹn; nấm Candida ở miệng - họng, âm hộ - âm đạo; lang ben... Thuốc hấp thu tốt khi uống ngay sau bữa ăn hoặc uống cùng thức ăn, do thức ăn làm tăng hấp thu. Không dùng thuốc này cho phụ nữ mang thai hoặc dự định có thai. Mặc dù điều trị ngắn ngày, thuốc không làm rối loạn chức năng gan, nhưng cũng không nên dùng thuốc cho người bệnh có tiền sử bệnh gan hoặc gan đã bị nhiễm độc do các thuốc khác. Khi điều trị dài ngày (trên 30 ngày) phải giám sát định kỳ chức năng gan.

Khi điều trị ngắn ngày, tác dụng không mong muốn thường xảy ra ở khoảng 7% người bệnh, phần lớn là buồn nôn, đau bụng, nhức đầu và khó tiêu. Khi điều trị dài ngày ở người bệnh đã có bệnh tiềm ẩn và phải dùng nhiều loại thuốc cùng lúc thì tác dụng không mong muốn xảy ra nhiều hơn (16,2%). Hầu hết các phản ứng phụ xảy ra ở đường tiêu hóa và với tần xuất ít nhất 5 - 6% trên số người bệnh đã điều trị.

Những lưu ý

Khi bị nấm kẽ chân, ở các kẽ ngón chân thấy đỏ, trợt da, chảy dịch... và rất ngứa. Tuy nhiên, nếu bị nhẹ chỉ cần dùng dạng thuốc bôi ngoài, chỉ dùng thuốc uống khi bệnh nặng (theo chỉ định của bác sĩ).

Mỗi loại thuốc bôi, từng loại biệt dược, từng dạng bào chế sẽ có các đặc điểm dược lý học và hiệu quả khác nhau, lưu ý sử dụng khác nhau nhưng khi dùng thuốc bôi chống nấm đều cần phải lưu ý một số vấn đề sau: Không cần phải ngâm rửa tổn thương khi bôi thuốc. Nếu tổn thương chảy dịch nhiều, có bám bụi bẩn, dị vật... thì chỉ cần lau sạch tổn thương bằng bông, gạc sạch rồi bôi thuốc; Bôi thuốc đúng cách, vừa đủ lượng: bôi một lớp mỏng, dàn đều lên bề mặt tổn thương là đủ. Nếu bôi quá nhiều thuốc có thể gây cảm giác nóng, rát ở tổn thương, gây lãng phí thuốc.

Bệnh nấm kẽ chân thường hay gặp trong mùa mưa, việc điều trị bệnh không khó nhưng các loại thuốc kháng nấm đường bôi và đường uống khi dùng cũng cần thận trọng và sử dụng theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa để đạt hiệu quả điều trị và tránh được các tác dụng phụ.

NẤM KẼ CHÂN VÀO MÙA MƯA


Theo các chuyên gia, nhiều người nghĩ bệnh này dễ chữa, dễ khỏi nên chủ quan. Thực tế, nếu không có sự hiểu biết, bệnh dễ lây lan và chữa trị rất khó.

Đừng nghĩ đi ủng là thoát bệnh


PGS.TS Trần Hồng Côn, khoa Hóa, Đại học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội cho hay, ở những vùng lũ, nước thường bị ô nhiễm. Ngoài ra, việc thường xuyên phải dầm nước, nhất là nước bẩn khiến nhiều người dân sống ở các vùng ngập lụt thường có biểu hiện viêm da kẽ chân, mụn nước.


ThS.BS Nguyễn Thị Thảo, Trung tâm Da liễu Hà Đông, Hà Nội cho biết, hiện tượng này dân gian vẫn gọi là nước ăn chân, nhưng theo y học hiện đại gọi là bệnh nấm kẽ. Bệnh thường gặp ở những người có công việc liên quan, tiếp xúc thường xuyên với nước, hoặc ở vùng lũ lụt.


Ở các kẽ hẹp giữa các ngón chân thường có biểu hiện lớp da bên trên do bị ngâm nước nhiều nên bợt đi, mủn trắng và có kẽ nứt, còn bên dưới là một nền da đỏ ướt. Nhiều người bệnh lan ra cả bàn chân, nhất là gót chân, má ngoài của bàn chân, lòng bàn chân, khiến người bệnh ngứa ngáy, khó chịu.


Bệnh chủ yếu do các vi khuẩn Trichophyton Mentagrophytes và Trichophyton Rubrum hoặc Epidermophyton Floccosum gây ra.


Lương y Nguyễn Văn Sử, Hội Y học Cổ truyền Việt Nam cho biết thêm, ở các vùng lũ lụt, nhiều người chọn đi ủng nhựa cho sạch và tránh nước bẩn. Tuy nhiên, thực tế nếu vài ngày liền đi ủng chân đã ẩm ướt lại cứ bó chặt trong ủng nhựa bí rì thì cũng không tránh khỏi bị nấm da.




Thường xuyên dầm nước khiến người dân sống ở vùng ngập lụt hay bị viêm da kẽ chân, mụn nước



Cách ly và giữ khô thoáng


Lương y Nguyễn Văn Sử cho biết, khi mới phát hiện bệnh, có thể điều trị theo các bài thuốc dân gian cũng rất hiệu quả. Ví dụ, lá trầu không đã được nhiều nghiên cứu chứng minh là có thành phần chất kháng sinh, có tác dụng sát khuẩn rửa vết thương. Lấy lá trầu không, vò nát, xát vào các kẽ ngón chân, hoặc vắt lấy nước cốt bôi vào các kẽ ngón chân. Phèn chua đun chảy đến trắng khô rồi tán thành bột, kết hợp với bột hoàng đằng rắc vào các kẽ chân lở loét cũng giúp vết thương nhanh khô.


Đơn giản hơn, người bệnh cũng có thể nấu nước lá lốt hoặc lá kim ngân ngâm rửa chân, lấy búp ổi giã với muối, xát nhẹ vào chỗ ngứa. Tuy nhiên, lương y Nguyễn Văn Sử cũng cho hay, những bài thuốc này chỉ thích hợp khi bệnh mới phát triển, còn khi vết lở loét nặng thì nên đi khám để có hướng điều trị thích hợp.


Theo ThS.BS Nguyễn Thị Thảo, bệnh nấm kẽ hoàn toàn có thể phòng tránh được bằng cách chú ý giữ chân sạch sẽ, khô thoáng. Sau khi lội nước bẩn phải rửa chân tay kỹ bằng nước sạch, rồi dùng khăn sạch lau khô, đặc biệt chú ý các kẽ ngón chân là nơi thường ẩm và dính bẩn tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn sinh sôi, phát triển bệnh. Tốt nhất nên rửa bằng nước chanh, quất, hoặc khế chua hoặc xà phòng SAStid (nếu có). Khi phát hiện các kẽ ngón chân chớm bị ngứa đỏ, tuyệt đối không gãi làm sây sát chỗ ngữa gây nhiễm khuẩn.


Ngoài ra, khi bị bệnh nấm kẽ chân, người bệnh nên tùy vào giai đoạn bệnh khác nhau để dùng thuốc chứ không nên dùng bừa bãi. Khi các kẽ chân, tay trợt, ướt rỉ dịch, da mủn trắng thì có thể dùng dung dịch BSI (cồn iod salibenzo), castellani chấm hằng ngày sáng và tối; khi các kẽ chân, kẽ tay đã se khô thì có thể dùng thuốc mỡ để bôi như clotrimazol 1% (calcrem, canesten, mudis...) hoặc bôi thuốc khác, chẳng hạn như ketoconazol, nystatin, lamisin.... Trong quá trình điều trị cố gắng giữ cho chân luôn khô thoáng, cách ly môi trường nước bẩn, tránh lội nước, ngâm chân lâu dưới nước.


Nếu gia đình có người bị nấm chân cần phải cách ly không để lây nấm sang người khác. Tuyệt đối không đi chung tất, giầy, dép, ủng... chung với người bệnh. Nếu đi tất, nên chọn loại có chất liệu khô thoáng, thấm hút tốt, thay tất hằng ngày và tốt nhất nên giặt bằng nước nóng với xà phòng sát khuẩn để diệt vi khuẩn gây bệnh. Chú ý không giặt chung với tất của người khác, không giặt chung với quần áo để phòng tránh bệnh lây lan.

NẤM KẼ CHÂN VÀO MÙA ĐÔNG


Tôi bị nấm kẽ chân rất hay tái phát. Hiện tôi đang bôi thuốc mỡ có chứa clotrimazol để điều trị. Tôi nghe nói thuốc clotrimazol có cả dạng viên. Tôi có thể vừa bôi clotrimazol kết hợp uống viên thuốc này để bệnh nhanh khỏi được không? Xin quý báo tư vấn giùm.

Lê Anh ( Hà Nội)

Clotrimazol là thuốc chống nấm phổ rộng được dùng điều trị các trường hợp bệnh ngoài da do nhiễm các loài nấm gây bệnh khác nhau. Clotrimazol được chỉ định để điều trị tại chỗ các bệnh nấm như: bệnh nấm Candida ở miệng, họng; bệnh nấm da, bệnh nấm Candida ngoài da, nấm kẽ ngón tay, kẽ chân, cũng như bệnh nấm Candida ở âm hộ, âm đạo, lang ben do Malassezia furfur, viêm móng và quanh móng...

Cần đề phòng những phản ứng tại chỗ khi điều trị nấm kẽ chân

Trên thị trường, clotrimazol có các dạng: thuốc viên nén, thuốc mỡ bôi ngoài da, thuốc đặt âm đạo. 

Ở dạng viên nén, thuốc được dùng ngậm để điều trị nhiễm nấm tại chỗ như trong nhiễm nấm Candida ở miệng, họng. Phải ngậm viên thuốc clotrimazol cho tới khi tan hoàn toàn, mất khoảng 15 - 30 phút. Nuốt nước bọt trong khi ngậm. Không nhai hoặc nuốt cả viên. Không dùng clotrimazol đường miệng cho trẻ dưới 3 tuổi vì chưa xác định hiệu quả và độ an toàn. 

Thuốc clotrimazol chỉ có hiệu quả điều trị nhiễm nấm tại chỗ không có tác dụng điều trị nhiễm nấm toàn thân. Vì vậy với trường hợp của bạn, việc uống thêm viên thuốc clotrimazol sẽ không có tác dụng trong điều trị nấm kẽ chân. Chưa kể việc dùng clotrimazol đường miệng có thể gặp phải các phản ứng phụ như: kích ứng và rối loạn tiêu hóa, nôn, buồn nôn...

Trong quá trình bôi thuốc mỡ clotrimazol, bạn cần đề phòng các phản ứng tại chỗ như: bỏng nhẹ, kích ứng, viêm da dị ứng do tiếp xúc, đau rát vùng bôi thuốc ở da. Trong khi đang dùng thuốc cần tránh các nguồn gây nhiễm khuẩn hoặc tái nhiễm. Nếu có biểu hiện tăng kích ứng ở vùng bôi thuốc (đỏ, ngứa, bỏng, mụn nước, sưng) đó là dấu hiệu của sự quá mẫn, cần dừng dùng thuốc và đi khám lại để có hướng điều trị thích hợp.

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

NÊN ĐIỀU TRỊ VẨY NẾN Ở ĐÂU




Thưa bác sĩ, Hiện tại tôi bị ngứa và chóc vẩy ở đầu móng tay,đầu đi khám bs nói đó là bệnh vẩy nến. Cho tôi hỏi đó có phải không? Xin hỏi nguyên nhân, triệu chứng và cách chữa trị. Nên dùng kiên những thức ăn và uống gì? Chân thành cảm ơn. (ĐỒNG QUỐC DUY)

Trả lời:
Bệnh vẩy nến là do sự rối loạn điều tiết tạo nên một màng ngăn bám chặt trên da. Màng bám này sản sinh tế bào nhanh gấp 10 lần so với bình thường rồi chết. Nhưng thay vì mất đi như tế bào chết bình thường thì nó nổi lên thành từng vẩy trắng.

Chúng thường xuất hiện ở đầu gối, khuỷu tay, da đầu nhưng đôi khi cả ở thân thể, gan bàn tay, bàn chân và các ngón chân.

Triệu chứng của bệnh vẩy nến bao gồm:

- Các tế bào da chết dày lên, những nốt vẩy da gây ngứa, các vẩy như vẩy cá trên da ngày càng phát triển. Sâu dưới vẩy có màu hồng còn phía trên vẩy da thì màu trắng.

- Các vẩy này phát triển trên da đầu, đầu gối, khuỷu tay, phần trên của thân là nhiều. Tuy nhiên, khi chúng phát triển ở móng tay và móng chân, thì các vẩy trở nên dày hơn, sần sùi và không màu.

- Những vẩy như vẩy cá, màu đỏ gây tổn thương da ở lòng bàn tay với các mụn nhỏ là dấu hiệu của vẩy nến ở lòng bàn tay, và xuất hiện dấu hiệu tương tự gọi là vẩy nến ở bàn chân. Và nó liên quan đến các khớp, dễ phát triển thành bệnh viêm khớp vẩy nến.

Một số cách chữa bệnh vẩy nến như sau:

- Cách giúp giảm bệnh vẩy nến hiệu quả nhất được nhiều bác sĩ khuyên dùng là ngâm mình (hoặc phần da bị vẩy nến) trong nước ấm từ 10 đến 15 phút, sau đó bôi thuốc dưỡng ẩm làm mềm da để giúp da mềm và ẩm hơn.

- Dùng thuốc mỡ axit salixilic để làm mềm da và thuốc này cũng giúp bong các vẩy nến trên da.

- Dùng kem chứa thành phần steroid cũng có hiệu quả, tuy nhiên vì loại này cũng có thể gây hại đến da nên cần được hỏi bác sĩ tư vấn xem có thích hợp với loại da của bạn không.

- Dùng thuốc mỡ chứa thành phần calcipotriene vì nó liên kết với vitamin D và cho kết quả tốt như kem hydrocortisone để điều trị vẩy nến.

- Thuốc mỡ có chứa thành phần nhựa than đá và dầu gội có thể làm giảm các triệu chứng của bệnh nhưng thuốc này dễ gây tổn thương vùng da xung quanh. Thuốc này bạn cần phải hỏi ý kiến của bác sĩ.

- Thuốc mỡ Anthralin sau khi bôi khoảng 10 - 30 phút thì cho tác dụng làm bong các vẩy nến, tạo tế bào da mới và tế bào da bình thường. Tuy nhiên thuốc mỡ anthralin có thể làm da bạn bị tấy đỏ lên và phải sau vài tuần mới hết được.

- Đơn thuốc chứa vitamin A thì không có tác dụng bằng steroid nhưng phụ nữ đang ở độ tuổi sinh đẻ thì nên dùng thuốc này hơn. Tuy nhiên đơn thuốc chữa vẩy nến cần phải được tư vấn từ bác sĩ để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và bé.

Lưu ý khi chăm sóc da

- Khi bạn phơi nắng, dù tia cực tím chưa đủ để làm cháy nắng làn da của bạn nhưng cũng đủ để gây thương tổn cho da, nhất là lúc này da bạn đang bị rối loạn điều tiết sinh ra bệnh vẩy nến. Vì vậy cần tránh tiếp xúc với tia cực tìm càng nhiều càng tốt.

- Ngoài ra để tránh bệnh vẩy nến phát triển và lan rộng bạn cần tránh làm tổn thương da, côn trùng cắn, nhiễm vi khuẩn và vi rút, cháy nắng, stress, rượu và tăng cân.

- Nếu bệnh vẩy nến trở nên nặng và khó chữa thì có thể bạn chọn phương pháp dùng tia PUVA kết hợp với thuốc trị vậy nến. Tuy nhiên cách này có thể làm tăng nguy cơ ung thư da hơn là bạn dùng tia UVB để điều trị mà cũng cho kết quả tương tự.

Hãy đến khám bác sĩ nếu:

- Bệnh vẩy nến của bạn trở nên tồi tệ hơn sau khi bạn ngừng dùng thuốc corticosteroid (thuốc hen). Có thể bạn cần một đơn thuốc khác để điều trị bệnh này.

- Những tổn thương da của bạn không phản ứng lại với bất kỳ cách điều trị nào, thì cần phải kiểm tra lại những thương tổn dưới da.

Chế độ dinh dưỡng cho người bị vảy nến

Có nhiều phương pháp điều trị bệnh vảy nến, nhưng hình thức thường được áp dụng vẫn là các loại thuốc có chứa corticosteroid. dù vậy hiệu quả vẫn chưa được như mong muốn vì hai trở ngại cơ bản:

- Bệnh không dứt hẳn sau khi ngưng thuốc.

- Thuốc có nhiều phản ứng phụ tai hại không thua căn bệnh.

Hiện nay có khuynh hướng trở về với dinh dưỡng liệu pháp nhằm vận dụng hoạt chất dễ dung nạp trong thực phẩm để thay thế các chất dễ gây hại trong dược phẩm.

Thực phẩm ưu tiên:

Cá biển: loại có nhiều 3-Omega như cá hồi, cá thu, cá saba… Nghiên cứu cho thấy nếu dùng 150g mỗi ngày trong nhiều ngày liên tục có thể giảm lượng thuốc corticosteroid đến phân nửa mà không mất hiệu năng của thuốc nhờ 3-Omega có tác dụng ức chế các chất sinh viêm trong bệnh vảy nến như leucotriene 3 và 5.

Rau quả: có nhiều beta-carotin như trái bơ, cà rốt và đặc biệt là xoài để bảo vệ cấu trúc mong manh của da.

Mè đen: vừa chứa dầu béo có cấu trúc tương tự 3-Omega, vừa cung cấp sinh tố E cần thiết cho lớp sợi liên kết (collagen) dưới da.

Bông cải xanh: để bổ sung acid folic là tác nhân sinh học giữ vai trò quan trọng trong tiến trình tổng hợp kháng thể. Chất này lại rất dễ thiếu trong bệnh vảy nến.

Nghêu sò: nhằm cung ứng kẽm, khoáng tố tối cần thiết không chỉ cho da mà cho sức đề kháng. Người bị vảy nến không nên có định kiến phải tránh hải sản vì sợ đó là các món ăn vào thêm ngứa. Quan điểm đó chỉ đúng nếu người bệnh dị ứng với hải sản nào đó.

Và hạn chế:

Thịt, sữa, trứng: vì chứa nhiều arachidon là chất xúc tác cho phản ứng viêm tấy không chỉ ngoài da, mà trong khớp, trên thần kinh ngoại biên…

Rượu bia: vì độ cồn là đòn bẩy cho phản ứng thoái biến các loại chất đạm có tác dụng sinh dị ứng. Hơn nữa, tiến trình giải độc rượu của gan bị trì trệ rất nhiều ở người có cơ địa vảy nến.

CÁCH PHÒNG BỆNH VẨY NẾN TỐT NHẤT CHO TRẺ EM

Khác với bệnh ghẻ ngứa do con ghẻ, bệnh ghẻ phỏng là bệnh nhiễm trùng da do vi khuẩn hình cầu gây ra.
Ghẻ phỏng (GP) là bệnh rất dễ lây, không chỉ lây từ vùng da này đến vùng da khác trên cùng một người bệnh mà còn lây từ người nọ sang người kia. Bệnh GP thường gặp ở trẻ em và xuất hiện nhiều trong mùa nóng bức có khí hậu ẩm.


Nguồn lây nhiễm

Vi khuẩn gây bệnh GP có từ nhiều nguồn khác nhau. Móng tay dài và dơ dính bám cáu ghét đất là nơi cho vi khuẩn trú ngụ và từ đó bệnh theo các vết cào gây xây xát ngoài da. Chất nhầy từ mũi họng bị viêm chảy ra là ổ lây bệnh GP ở quanh mũi và miệng của bé. Các vật nuôi trong nhà như chó, mèo cũng là nguồn lây nhiễm cho trẻ. ở nhà trẻ, trường học là môi trường dễ lây từ trẻ bị bệnh sang trẻ lành.

Triệu chứng và biến chứng

Dấu hiệu đầu tiên của GP là vết đỏ trên da, sau đó từ vết này nổi lên mụn nước và bóng nước như bị phỏng. Bóng nước nhanh chóng bị vỡ và khô lại thành mày dày có màu vàng. Mày GP dễ tróc khi trẻ cào gãi. Chất dịch của bóng nước có chứa nhiều vi khuẩn cho nên chất dịch này sẽ lây lan và tạo thành nốt GP mới ở vùng da lân cận do gãi, do cào cấu hoặc lây qua trẻ khác do dây dính trực tiếp chất dịch này.

GP là bệnh nhiễm trùng nhẹ trên bề mặt da và khi khỏi không để lại sẹo. Tuy nhiên ở những bé bị GP tái đi tái lại nhiều lần và nhất là GP ở vùng da quanh mũi và miệng, một số bé có thể bị biến chứng viêm cầu thận cấp, là bệnh nặng hơn rất nhiều so với bệnh nguyên thủy (GP).


Phòng bệnh và điều trị

- Giữ vệ sinh da cho bé, sử dụng các loại xà bông diệt khuẩn thông dụng để phòng ngừa GP.

- Cắt ngắn móng tay, chân cho bé thường xuyên để loại bỏ ổ chứa vi khuẩn.

- Khi bé bị viêm mũi, họng thì cần đưa bé đi điều trị sớm để ngăn chặn lây nhiễm ra da, nhất là phòng ngừa biến chứng viêm cầu thận cấp.

- Trong các trường mẫu giáo, nhà trẻ, trường tiểu học, khi phát hiện có trẻ bị GP, các thầy cô cần báo cho cha mẹ bé để đưa bé đi khám bệnh, phòng lây bệnh cho các học sinh khác.

- Mặc dù GP là loại nhiễm trùng da nhẹ có thể điều trị dễ dàng bằng thuốc bôi có chứa chất kháng sinh hoặc thuốc uống kết hợp, nhưng các bậc cha mẹ cũng cần đưa trẻ đến khám để được chỉ định thuốc điều trị cho đúng cách, vì da của trẻ con rất dễ hấp thu thuốc qua đường bôi cho nên bôi thuốc quá liều, bôi thuốc sai quy định có thể gây hại cho bé.

NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ BỆNH VẨY NẾN

Bệnh vẩy nến là một rối loạn da thường gặp. Bệnh nhẹ chỉ xuất hiện ở một vài vị trí nhưng trường hợp nặng, bệnh có thể lan rộng toàn thân khiến bệnh nhân mặc cảm, xấu hổ. Bệnh vẩy nến cho đến nay vẫn chưa có phương pháp chữa trị dứt điểm.
Bệnh vẩy nến là gì?

Bệnh vẩy nến là một rối loạn da thường gặp. Bệnh tạo nên những mảng lớn màu đỏ tía, tróc vẩy trên da. Vẩy màu trắng bạc xếp nhiều lớp, dễ tróc. Những mảng này dầy, thường ở khuỷu, đầu gối và da đầu, nhưng cũng có thể gặp ở những nơi khác. Khi cạo vào mảng này vẩy tróc ra từng phiến mỏng và có cảm giác như cạo vào thân cây đèn cầy nên có tên là bệnh vẩy nến.



Những trường hợp nhẹ, bệnh chỉ ở một vài vị trí. Trong trường hợp nặng, bệnh lan rộng toàn thân. Bệnh nhân có thể mặc cảm, xấu hổ khi có mảng vẩy nến ở những vùng cơ thể mà người khác nhìn thấy.

Tình hình mắc bệnh vẩy nến hiện nay như thế nào?

Bệnh hiện nay khá thường gặp chiếm khoảng 1,5-2% dân số. Bệnh có tính di truyền (cha hoặc mẹ bị bệnh thì 8,1% con bị bệnh. cả cha và mẹ bị bệnh thì 41% con bị bệnh).

Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi và đa số khởi phát bệnh từ 20-30 tuổi. Bệnh xuất hiện ở 2 phái nam và nữ tương đương nhau.

Về chủng tộc, bệnh xuất hiện ở mọi chủng tộc và theo ghi nhận thì tần suất mắc bệnh thấp ở người Nhật, Tây Ấn, Eskimo và rất thấp ở người da đỏ châu Mỹ.

Nguyên nhân gây bệnh là gì?

Hiện tại người ta chưa biết chính xác nguyên nhân của bệnh. Da trở nên đỏ và dày là vì các tế bào da tăng trưởng nhanh hơn bình thường. Do vậy không có đủ thời gian để các tế bào tróc ra, nên chúng xếp chồng chất lên nhau tạo thành những mảng da dầy, tróc vẩy.

Những yếu tố nào có thể khiến bệnh nặng thêm? 

Stress, chấn thương và nhiễm trùng có thể làm cho bệnh trở nặng. Một số thuốc cũng làm bệnh xấu hơn bao gồm lithium, vài loại hạ áp (như ức chế beta, ức chế men chuyển), vài loại kháng viêm non-steroid (như ibuprofen)

Bệnh có thể điều trị khỏi không?

Hiện nay bệnh vẩy nến vẫn chưa điều trị khỏi hoàn toàn nhưng nếu điều trị đúng thì có thể kiểm soát được bệnh. Các phương pháp điều trị bệnh hiện nay nhằm:
- Kiểm soát triệu chứng ngứa, đóng vảy và đau khớp
- Giảm diện tích da bị tổn thương
- Làm sạch vùng da có mảng vẩy nến, đẩy lui bệnh
- Phòng ngừa các biến chứng như vẩy nến toàn thân, ban đỏ da, biến dạng khớp
- Giảm thiểu hoặc loại trừ những tác động tâm lý bất lợi do bệnh gây ra
- Ngăn ngừa tái phát.

Hiện nay bệnh được điều trị bằng những phương pháp nào?

Hiện nay có nhiều cách điều trị, bác sĩ sẽ quyết định phương pháp nào là tốt nhất cho bệnh nhân. Bước đầu tiên, bệnh nhân nên giữ ẩm da bằng các sản phẩm không cần kê toa. Sau đó bác sĩ thường cho thuốc dạng kem, mỡ, dung dịch hay gel (gọi chung là thuốc bôi) để bôi lên vùng da bệnh. Có thể bôi trước khi đi ngủ, bọc vùng da này lại bằng một tấm chất dẻo (ví dụ như Saran Wrap).

Nếu không đáp ứng với các thuốc bôi này, bác sĩ sẽ kê toa một loại thuốc mới dùng đường chích. Thuốc này dùng trong vẩy nến trung bình và nặng. Các loại dầu gội đặc biệt (shampoo) dùng cho vẩy nến da đầu và trong trường hợp nặng hơn thì sử dụng thuốc đường uống.

Một phương pháp điều trị khác là dùng tia cực tím. Ánh sáng mặt trời có tác dụng tốt trong bệnh vẩy nến, nhưng không nên phơi nắng quá lâu bởi vì nếu để da bị bỏng nắng, bệnh sẽ trở nặng. Vì vậy nên dùng thuốc chống nắng trên những vùng da bình thường, đặc biệt là mặt.

Vẩy sẽ tróc ngay sau khi bắt đầu điều trị. Sẽ mất khoảng 2 – 6 tuần để những chỗ da dày trở lại bình thường trong khi màu đỏ có thể kéo dài vài tháng. Bệnh vẩy nến chỉ giảm chứ không khỏi hẳn. Sau một thời gian sử dụng một loại thuốc nào đó, bệnh sẽ “lờn” với điều trị, nghĩa là thuốc này không còn hiệu quả nữa. Lúc này bác sĩ của bạn sẽ chuyển sang loại thuốc hay phương pháp điều trị khác.

Những biện pháp giúp điều trị bệnh hiệu quả, tránh làm bệnh nặng hơn và hạn chế tái phát

Bệnh vẩy nến ở từng bệnh nhân được xử trí theo những cách khác nhau. Vì vậy bệnh nhân nên biết rõ bệnh của mình và tìm cách tránh các yếu tố làm nặng thêm bệnh. Hiểu rõ những biện pháp điều trị khác nhau để cùng thảo luận với bác sỹ về các biện pháp điều trị thích hợp.

Tránh các yếu tố có thể làm cho bệnh trở nặng như: stress, chấn thương và nhiễm trùng. Không nên dùng một số thuốc làm bệnh xấu hơn bao gồm lithium, vài loại thuốc hạ huyết áp như ức chế beta, ức chế men chuyển… hoặc các loại thuốc kháng viêm non-steroid như ibuprofen…


BIẾN CHỨNG BỆNH VẨY NẾN

Các kết quả nghiên cứu cho thấy nam giới có tiền sử mắc bệnh vảy nến thì cũng bị tăng nguy cơ rối loạn cương dương.

Để tìm hiểu kỹ hơn mối liên quan này, các nhà nghiên cứu ở Đại học Y Đài Bắc (Đài Loan) đã phân tích dữ liệu từ Chương trình bảo hiểm y tế quốc gia Đài Loan về 4606 nam giới bị rối loạn cương dương và một nhóm gồm 13.818 người khỏe mạnh không bị rối loạn cương dương. Tuổi trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 57,3 tuổi.


Các nhà khoa học đã đánh giá xem liệu nhóm nam giới bị chẩn đoán mắc bệnh vảy nến trước đây có dễ bị rối loạn cương dương hơn nhóm kia hay không.

Tính chung, 136 đối tượng (0,7%) có tiền sử mắc bệnh vảy nến. Trong số đó có 77 người (1,7%) ở trong nhóm bị rối loạn cương dương còn 59 người (0,4%) ở trong nhóm kia.

Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu như thu nhập hàng tháng, vị trí địa lý, bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch, béo phì… thì những bệnh nhân mắc bệnh vảy nến dễ bị rối loạn cương dương gấp 3,8 lần người khỏe mạnh.

ĐIỀU TRỊ BỆNH VẨY NẾN LÂU DÀI

Bệnh vẩy nến (Psoriasis) được biết đến từ thời thượng cổ và là một trong những bệnh da rất hay gặp ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới.

Theo thống kê, tỷ lệ bệnh vẩy nến khác nhau tùy từng vùng, từng châu lục, song nó dao động trong khoảng 1-3% dân số. Mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu, song cho đến nay nguyên nhân và sinh bệnh học của bệnh vảy nến vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ. Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch và yếu tố di truyền. Ngoài ra một số yếu tố có ảnh hưởng, kích thích và làm bệnh tiến triển nặng thêm cũng được đề cập. Đó là các yếu tố: Stress, nghiện bia, rượu, thuốc lá, nhiễm trùng, rối loạn nội tiết, rối loạn chuyển hóa, khí hậu, môi trường…

Một điều khẳng định chắc chắn là bệnh vẩy nến không phải là bệnh lây nhiễm như bao người nhầm tưởng.

Biểu hiện của bệnh vẩy nến là gì?

- Thương tổn da: Hay gặp và điển hình nhất là các dát đỏ có vẩy trắng phủ trên bề mặt, vẩy dày, có nhiều lớp xếp chồng lên nhau rất dễ bong và giống như giọt nến (Vì vậy có tên gọi là “Vẩy nến”). Kích thước thương tổn to nhỏ khác nhau với đường kính từ 1- 20cm hoặc lớn hơn.

Vị trí điển hình nhất của các dát đỏ có vẩy là vùng tì đè, hay cọ xát như: khuỷu tay, đầu gối, rìa tóc, vùng xương cùng, mông. Tuy nhiên sau một thời gian tiến triển các thương tổn có thể lan ra toàn thân.

- Thương tổn móng: Có khoảng 30% - 40% bệnh nhân vẩy nến bị tổn thương móng tay, móng chân. Các móng ngả màu vàng đục, có các chấm lỗ rỗ trên bề mặt. Có thể móng dày, dễ mủn hoặc mất cả móng.

- Thương tổn khớp: Tỷ lệ khớp bị thương tổn trong vẩy nến tùy từng thể. Thể nhẹ, thương tổn da khu trú, chỉ có khoảng 2% bệnh nhân có biểu hiện khớp. Trong khi đó ở thể nặng, dai dẳng có đến 20% bệnh nhân có thương tổn khớp. Biểu hiện hay gặp nhất là viêm khớp mạn tính, biến dạng khớp, cứng khớp, lệch khớp, bệnh nhân cử động đi lại rất khó khăn… Một số bệnh nhân thương tổn da rất ít nhưng biểu hiện ở khớp rất nặng, đặc biệt là khớp gối và cột sống.

Vẩy nến có bao nhiêu thể?

Tùy theo tính chất, đặc điểm lâm sàng, người ta chia vẩy nến làm 2 thể chính: Thể thông thường và thể đặc biệt.

Trong thể thông thường, dựa vào kích thước, vị trí của thương tổn da, người ta phân làm các thể như: Thể giọt, thể đồng tiền, thể mảng, vẩy nến ở đầu, vẩy nến đảo ngược, …

Thể đặc biệt ít gặp hơn nhưng nặng và khó điều trị hơn. Đó là các thể: Vẩy nến thể mủ, vẩy nến thể móng khớp, vẩy nến thể đỏ da toàn thân.

Bệnh tiến triển trong bao lâu?

Bệnh vẩy nến tiến triển lâu dài, nhiều đợt. Có khi sau một thời gian điều trị, bệnh ổn định, nhưng nếu không duy trì chế độ điều trị, sinh hoạt, làm việc hợp lý thì các thương tổn lại tái phát.

Điều trị bệnh vẩy nến như thế nào ?

Cho đến nay chưa có một phương pháp nào đặc hiệu để điều trị khỏi hoàn toàn bệnh vẩy nến. Tuy nhiên trong những năm gần đây nhiều thuốc mới đã được áp dụng để điều trị toàn thân và tại chỗ có tác dụng rất tốt, bệnh ổn định lâu dài.

Điều trị tại chỗ: Bôi các thuốc sau đây:

+ Mỡ Salicylé 2%, 3%, 5% có tác dụng bong vẩy, bạt sừng.

+ Mỡ Corticoid : Eumovate, Diprosalic, … có tác dụng chống viêm rất tốt, thương tổn mất rất nhanh. Tuy nhiên không nên lạm dụng bôi nhiều và dài ngày vì sẽ gây biến chứng làm bệnh nặng thêm.

+ Mỡ có Vitamin A axit như: Differin, Isotrex, Erylick...: Có tác dụng bình thường hóa quá trình sừng hóa của da.
Biều hiện ở bệnh nhân vẩy nến

Điều trị toàn thân:

Có thể dùng các thuốc sau đây:

+ Vitamin A axit: Soritane, Tigasone...

+ Methotrexate.

+ Cyclosporin...

Các thuốc này có tác dụng rất tốt, nhưng có nhiều tác dụng phụ như có thể gây quái thai, hạ bạch cầu, rối loạn chức năng gan, thận, ... Vì vậy cần được chỉ định đúng và theo dõi nghiêm ngặt trong quá trình điều trị.

- Corticoid và bệnh vẩy nến: Các Corticoid dùng đường uống (Prednisolone, Medrol...) hoặc tiêm tĩnh mạch (Methylprednisolone) đều có tác dụng tốt, nhanh. Nhưng chỉ nên áp dụng cho một số trường hợp đặc biệt trong một thời gian ngắn và phải được chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Nếu lạm dụng dùng liều cao kéo dài bệnh sẽ tái phát nặng và có thể gây nhiều biến chứng trầm trọng.

Trị liệu bằng ánh sáng (Phototherapy)

Có thể phối hợp các phương pháp trên với chiếu tia cực tím có bước sóng khác nhau (UVA, UVB) cũng có kết quả rất tốt và kéo dài thời gian ổn định bệnh.

Đặc biệt hiện nay phương pháp PUVA (Psoralene Ultraviolet A) đang được áp dụng để điều trị bệnh vẩy nến các thể khác nhau và có kết quả rất khả quan.

Phương pháp sinh học (Biotherapy)

Trong những năm gần đây người ta đã tổng hợp được nhiều chất sinh học có tác dụng tốt trong điều trị bệnh vẩy nến như: Efanecept, Alefacept, Efalizumab,... Nhiều nước như Mỹ, Anh, Pháp, Úc... đã áp dụng phương pháp này và đạt kết quả tốt. Tuy nhiên phương pháp này vừa đắt tiền vừa có một số tác dụng phụ nên chưa được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam.

Tư vấn:

Một điều vô cùng quan trọng là trong quá trình điều trị cần phải tư vấn cho bệnh nhân. Vì tiến triển của bệnh vẩy nến thất thường, dai dẳng nên cần khuyên bệnh nhân không được lơ là, tự động bỏ thuốc khi thấy thương tổn đã giảm. Hướng dẫn bệnh nhân tuân thủ chế độ điều trị theo từng giai đoạn bệnh, đồng thời phải hạn chế bia, rượu, thuốc lá, tránh các stress và điều trị triệt để các bệnh mạn tính khác nếu có. Có như vậy mới tránh được các biến chứng và bệnh sẽ ổn định lâu dài.

Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2014

CHỮA BỆNH Á SỪNG BẰNG LÁ SUNG

Sung thuộc họ dâu tằm (Moraceae), còn có tên là vô hoa quả, thiên sinh tử, ánh nhật quả, văn tiên quả, phẩm tiên quả, nãi tương quả, mật quả... Quả sung vị ngọt, tính bình, là một vị thuốc quý chữa được nhiều bệnh, cách làm đơn giản.


CHỮA BỆNH Á SỪNG BẰNG QUẢ SUNG
Viêm họng:
- Sung tươi sấy khô, tán bột rồi lấy một ít bột này thổi vào họng.
- Sung tươi gọt vỏ, thái phiến, sắc kỹ lấy nước, cho thêm đường phèn rồi cô nhỏ lửa thành dạng cao, ngậm hàng ngày.
Ho khan không có đờm: Sung chín tươi 50-100g gọt bỏ vỏ, nấu với 50-100g gạo thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày. Có thể cho thêm ít nho khô hoặc đường phèn cho dễ ăn.
Hen phế quản: Sung tươi rửa sạch, giã nát, ép lấy nước cốt uống mỗi ngày 1 lần.
Viêm loét dạ dày tá tràng: Sung sao khô tán bột, mỗi ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 6-9g với nước ấm.
Tỳ vị hư nhược, rối loạn tiêu hóa: Sung 30g, thái nhỏ, sao hơi cháy, mỗi ngày lấy 10g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, chế thêm một chút đường phèn, uống thay trà trong ngày.
Kiết lỵ: Sung vài quả (nhiều, ít tùy theo tuổi), sắc kỹ lấy nước, chế thêm một chút đường rồi uống. Nếu không có quả sung thì có thể dùng lá sung tươi sắc uống.
Táo bón:
- Sung tươi 9g sắc uống hàng ngày.
- Sung chín ăn mỗi ngày 3-5 quả.
- Sung tươi 10 quả rửa sạch, bổ đôi, ruột già lợn một đoạn làm sạch thái nhỏ, hai thứ đem hầm nhừ, chế thêm gia vị, ăn trong ngày.
Trĩ xuất huyết, sa trực tràng:
- Sung tươi 10 quả đem hầm với một đoạn ruột già lợn cho nhừ rồi ăn.
- Sung tươi 6g, rễ thị 9g, sắc uống. Nếu không có quả, có thể dùng lá sung sắc lấy nước xông ngâm tại chỗ chừng 30 phút.
Sa đì: Sung 2 quả, tiểu hồi hương 9g, sắc uống.
Sản phụ thiếu sữa: Sung tươi 120g, móng lợn 500g, hai thứ đem hầm thật nhừ, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Bài này có công dụng bổ khí huyết, làm ra sữa dùng rất tốt cho sản phụ sau sinh bị suy nhược, sữa không có hoặc có rất ít.
Viêm khớp: 
- Sung tươi lượng vừa đủ đem hầm với thịt lợn nạc ăn. 
- Sung tươi 2-3 quả rửa sạch thái vụn rồi tráng với trứng gà ăn.
Mụn nhọt, lở loét: Sung chín sao khô, tán bột rồi rắc lên tổn thương. Để đạt hiệu quả cao, trước đó có thể ngâm rửa tổn thương bằng nước sắc quả hay lá sung tươi, sau đó lau khô rồi rắc bột thuốc và băng lại.
Ngoài ra, nhựa của thân cây hay quả sung xanh còn được dân gian dùng để chữa mụn nhọt, bắp chuối và sưng vú. Cách làm: Rửa sạch vùng tổn thương, lau khô, dùng nhựa sung bôi trực tiếp vào nơi bị bệnh, sưng đỏ đến đâu thì bôi đến đó, bôi nhiều lần trong ngày. Để không phải bôi nhiều lần, có thể trộn nhựa sung với lá non, giã nát rồi đắp lên chỗ đau. Nếu mụn chưa có mủ thì đắp kín, nếu đã vỡ mủ thì đắp để hở một chỗ bằng hạt ngô. Khi đã có mủ muốn lấy ngòi ra thì giã thêm một củ hành với nhựa sung rồi đắp như trên, để hở miệng. Nếu sưng vú, đắp hở đầu vú.
Chữa đau đầu: Phết nhựa lên giấy bản rồi dán hai bên thái dương. Có thể phối hợp với việc ăn lá sung non hoặc dùng 5ml nhựa sung hòa trong nước đun sôi để nguội, uống trước khi đi ngủ.

ĐIỀU TRỊ Á SỪNG BẰNG THUỐC NAM

1. Lá sung, đu đủ, khoai tây.Khi kết hợp ba loại: Lá sung,lá đu đủ và củ khoai tây ta sẽ có một bài thuốc điều trị bệnh á sừng đơn giản mà không tốn kém với cách làm như sau:  Lá sung một nắm, lá đu đủ tía một nắm, hai củ khoai tây (luộc chín). Cho 3 vị trên giã nhỏ. Lấy một  bó chè tươi (xanh) nấu khoảng 10 phút, sau đó để qua ngày cho thiu, lấy nước chè này rửa nơi bị bệnh cho sạch sau đó lấy thuốc đã chế sẵn ở trên bó vào rồi băng lại, để qua đêm sáng lấy ra, rửa lại bằng nước chè ấm ấm. Bài thuốc này thực hiện bằng cách dùng  mỗi ngày làm vài lần như vậy sẽ rất hiệu quả.

NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG
NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG

2. Cây chè xanh
Dùng nước chè xanh ngâm chân và dùng lá xát vào chỗ da bị nứt rất hiệu quả. Cách làm như sau:  Mua chè xanh về nấu nước ( pha đặc), để chè xanh sôi khoảng 15 phút, sau đó cho vào một chút muối, hòa tan và ngâm chân, tay vào đó. Trong thời gian ngâm móng chân bị chè làm cho biến màu đen.  Nếu mùa đông khi nước nguội, nên hâm nóng lại rồi lại ngâm. Thời gian khoảng 1h đồng hồ/1 đêm. 

NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG
NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG

Cũng có thể dùng lá chè xanh xát vào những chỗ mụn nước và chỗ nứt nẻ, giúp mụn nước khô miệng, không bị loét nữa. Nếu hợp thì bạn sẽ cảm giác chân của mình dễ chịu hơn khi ngâm. Còn nếu sau khoảng một tuần ngâm mà không cảm giác dịu đi thì có thể là bạn không hợp thuốc này. 
NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG
NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG

3. Cây đinh lăng và huyết dụ
Bệnh á sừng cũng có thể chữa bằng cách uống nước của cây đinh lăng và cây huyết dụ. Cách dùng lấy mỗi thứ lá một nắm nhỏ cho vào sắc như sắc thuốc bắc, lá huyết dụ bằng ½ lá đinh lăng, sắc khi nào cảm thấy vừa uống là được. Nếu khó uống có thể cho thêm đường hoặc cam thảo vào.

NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG
NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG

Khác thuốc bắc, uống hai loại lá cây này không sợ bị tăng cân, là loại lá mát nên uống nhiều sẽ rất tốt. Cách tốt nhất là uống thay nước mỗi ngày. 
NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG
NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG

4. Sài đất và rau răm
Á sừng cũng có thể điều trị rất đơn giản bằng sài đất và rau răm. Sài đất rửa sạch, đun lấy nước, để ấm, dùng sửa tay thật sạch. 

NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG
NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG

Rau răm ( khoảng 1 mớ) rửa sạch,sau đó vẩy thật khô, giã nát rồi đắp lên chỗ bị á  sừng.
Mỗi lần đắp như vậy khoảng 1h đồng hồ, ngày đắp 1-2 lần( tùy điều kiện).
 
NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG
NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG

5. Quả chanh
Dùng chanh xát vào chỗ bị á sừng là bài thuốc đơn giản nhất để  điều trị bệnh á sừng. Chỉ cần lấy chanh, cắt lát ra và xát vào chỗ nứt, nẻ. Với cách này, bạn có thể làm bất cứ lúc nào, chỗ nào. Không giới hạn không gian và thời gian nên nó rất tiện , có thể tranh thủ cả khi đi ăn. 

NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG
NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG

6. Không ngâm chân, tay với nước muối.
Một trong số những cách phòng bệnh á sừng tốt nhất là không ngâm chân, tay với nước muối. Vì nước muối làm da khô, nứt sẽ rộng và sâu hơn.  Ngoài ra, cần thận trọng khi tiếp xúc với dụng cụ mạ nikel và đồ thuộc da như giày dép da. 

NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG
NHỮNG LOẠI DƯỢC LIỆU TỰ NHIÊN CHỮA BỆNH Á SỪNG

7. Tăng cường ăn rau quả tươi.
Tăng cường ăn rau quả tươi để có đủ vitamin cho cơ thể nói chung và lớp sừng nói riêng. Giá đỗ, cà chua, các loại đậu, rau ngót, rau bí, bắp cải, cam bưởi, đu đủ, cà rốt... là nguồn cung cấp vitamin vô cùng quý báu. Hơn nữa, duy trì được thuốc giữ ẩm thường xuyên thì tổn thương sẽ nhanh  hồi phục.